Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

Thông tin tuyên truyền: bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

Người tố cáo đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, các quy định về bảo vệ người tố cáo chưa thực sự cụ thể, rõ ràng. Do đó, cần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, có cơ chế khen thưởng hợp lý, nhằm khuyến khích công dân thực hiện quyền hiến định, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

1. Cơ sở lý luận, chính trị, pháp lý bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực.

Về phương diện chính trị – pháp lý thì tố cáo tham nhũng là quyền dân chủ trực tiếp của công dân, là phương thức để công dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và công dân. Việc công dân tố cáo những hành vi tham nhũng, tiêu cực được Nhà nước khuyến khích, ủng hộ và bảo vệ.

Tố cáo tham nhũng, tiêu cực là tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, trong đó, cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền biết về hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức, người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực là một trong những nội dung bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân cả ở góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Trong đó, đặc biệt là các quyền bí mật thông tin, quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, thân thể; quyền được có việc làm, vị trí công tác, thu nhập (tài sản) và quyền khác của người tố cáo hành vi tham nhũng.

Nhằm triển khai và nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, tạo cơ sở chính trị, pháp lý để Đảng và Nhà nước lãnh đạo, quản lý việc thực hiện và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân nói chung và bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực nói riêng. Cụ thể:

Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 10/01/2019 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chỉ thị đánh giá trên cơ sở chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của hạn chế về công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, từ đó đặt ra các yêu cầu đối với các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ, trong đó, tập trung vào nhiệm vụ: (1) Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, trước hết là người đứng đầu phải nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ người tố cáo thuộc phạm vi mình phụ trách; (2) Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người tố cáo…

Bên cạnh đó, Quyết định số 164-QĐ/TW ngày 06/6/2024 của Bộ Chính trị về quy trình giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng trực thuộc trung ương và đảng viên là cán bộ thuộc diện trung ương quản lý. Người đứng ra tố cáo tham nhũng, tiêu cực sẽ được bảo vệ theo quy định của Đảng.

Dưới góc độ pháp lý, việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực được quy định tại Điều 67 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018. Cụ thể: Việc bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo.

Điều 47 Luật tố cáo năm 2018 quy định về đ?i t??ng ???c b?o v?, ph?m vi b?o v?ối tượng được bảo vệ, phạm vi bảo vệ khi tố cáo như sau:

“1. Bảo vệ người tố cáo là việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo, bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo, vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người tố cáo.

2. Người tố cáo được bảo vệ bí mật thông tin cá nhân, trừ trường hợp người tố cáo tự tiết lộ.

3. Khi có những căn cứ về việc vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo đang bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại ngay tức khắc hay họ bị trù dập, phân biệt đối xử do việc tố cáo, thì người giải quyết tố cáo, cơ quan khác có thẩm quyền tự quyết định hoặc theo đề nghị của người tố cáo quyết định việc áp dụng biện pháp bảo vệ cần thiết”.

Đồng thời, Điều 49 Luật tố cáo năm 2018 còn quy định cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo tham những, tiêu cực:

“1. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm bảo vệ hoặc yêu cầu, đề nghị chủ thể khác bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ.

2. Cơ quan tiếp nhận, xác minh nội dung tố cáo có trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo.

3. Cơ quan Công an chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ.

4. Cơ quan quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức, lao động, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện việc bảo vệ vị trí công tác, việc làm của người được bảo vệ.

5. Ủy ban nhân dân các cấp, công đoàn các cấp, cơ quan, tổ chức khác có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ thực hiện việc bảo vệ bí mật thông tin, vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ”.

Như vậy, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật tố cáo năm 2018, Quyết định số 164-QĐ/TW của Bộ Chính trị là một bước tiến quan trọng về giải quyết tố cáo, trong đó có bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực, tạo cơ sở chính trị, pháp lý giúp người tố cáo nhận thức rõ được cơ chế bảo vệ sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, việc làm, thu nhập… để khuyến khích người tố cáo thực hiện quyền hiến định của mình, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

2. Một số khó khăn, bất cập khi triển khai những quy định bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

Trong quá trình giải quyết các vụ việc tố cáo tham nhũng, tiêu cực, những thông tin do người tố cáo cung cấp có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần giúp các cơ quan chức năng phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực. Những người tố cáo tham nhũng, tiêu cực đã tích cực phối hợp với các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết tố cáo, pháp luật Việt Nam cũng đã có những quy định về bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong nhiều vụ việc, người tố cáo tham nhũng, tiêu cực không muốn hoặc không dám tố cáo tham nhũng, tiêu cực hoặc việc tố cáo tham nhũng, tiêu cực gặp những khó khăn, trở ngại vì những lý do sau:

Thứ nhất, không phải lúc nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng nhận được tố cáo tham nhũng, tiêu cực với đầy đủ thông tin về họ, tên, địa chỉ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Có thể do người tố cáo tham nhũng, tiêu cực chưa an tâm, còn e ngại, hợp tác không tích cực với các cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh, xử lý vụ việc liên quan đến tố cáo vì họ sợ bị đe dọa, trả thù, nên không dám ghi tên, địa chỉ thật của mình khi làm đơn tố cáo tham nhũng, tiêu cực.

Thứ hai, việc biểu dương, khen thưởng người tố cáo đúng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt việc bảo vệ người tố cáo chưa được quan tâm đúng mức. Công tác giải quyết tố cáo trong một số trường hợp còn để kéo dài, có biểu hiện bao che người bị tố cáo. Kiểm tra, thanh tra, điều tra, phát hiện, xử lý hành vi trả thù, trù dập người tố cáo và những vi phạm quy định về bảo vệ người tố cáo chưa được coi trọng, trong khi những hành vi trả thù, trù dập, đe dọa, gây thương tích hoặc khủng bố tinh thần người tố cáo và những người thân của người tố cáo ngày càng tinh vi, khó phát hiện . Bên cạnh đó, người tố cáo tham nhũng ít khi nhận được sự đồng thuận, động viên của người thân trong gia đình nên họ thường đơn độc trong cuộc đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực.

Thứ ba, pháp luật hiện nay quy định có nhiều cơ quan tham gia bảo vệ người tố cáo như Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo; cơ quan Công an nơi người tố cáo, người thân thích của người tố cáo cư trú, làm việc, học tập; cơ quan công an nơi có tài sản của người tố cáo hoặc người thân thích của người tố cáo; tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan quản lý lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ở địa phương (Điều 49 Luật tố cáo năm 2018).

Ngoài ra, còn có các cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người tố cáo, người làm chứng, bị hại… như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.

Thứ tư, cơ chế pháp luật bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực cũng chưa thực sự hiệu quả. Pháp luật Việt Nam đã có nhiều quy định bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực như giữ bí mật thông tin của người tố cáo, đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo và người thân của họ nhằm ngăn chặn các hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo. Quy định của Luật tố cáo, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các văn bản hướng dẫn như Nghị định số 22/2019/NĐ-CP ngày 25/02/2019 của Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân; Thông tư số 145/2020/TT-BCA ngày 29/12/2020 của Bộ Công an quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo về hành vi tham nhũng, lãng phí; Thông tư số 03/2020/TT-BNV của Bộ Nội vụ quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, biện pháp bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo là cán bộ, công chức, viên chức… đều đề cập trực tiếp đến nội dung này . Tuy nhiên, các quy định trên vẫn còn chung chung, chưa mang tính định lượng, nên khó áp dụng trong thực tế. Ngoài ra, vấn đề nguồn kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất bảo vệ người tố cáo cũng không được quy định rõ ràng. Ví dụ nguồn kinh phí bảo vệ người tố cáo và người thân thích của người tố cáo sẽ trích từ nguồn ngân sách nào và cơ quan nào trực tiếp chi trả…

3. Hoàn thiện pháp luật bảo vệ các quyền của người tố cáo tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định của pháp luật về phạm vi bảo vệ các quyền người tố cáo tham nhũng, tiêu cực bao gồm như: Bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo; bảo vệ vị trí công tác, việc làm, tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo, bố, mẹ, người trực tiếp nuôi dưỡng vợ (chồng), con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh, chị, em ruột của vợ (chồng), gọi chung là người được bảo vệ.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Theo Điều 22 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức thi hành Luật tố cáo có quy định về chế tài xử lý kỷ luật hình thức “cảnh cáo” đối với người có thẩm quyền giải quyết tố cáo làm lộ thông tin cá nhân của người tố cáo, cụ thể: “Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo”. Quy định này chỉ đặt ra trách nhiệm bảo vệ bí mật thông tin của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết tố cáo lại có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau như cán bộ tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo như: Cán bộ tiếp công dân ở các trụ sở tiếp công dân, cán bộ tiếp nhận của cơ quan, đơn vị khác trong trường hợp cơ quan, đơn vị đó không có thẩm quyền giải quyết tố cáo… Nếu những người này làm lộ danh tính người tố cáo thì chưa có chế tài xử lý. Do đó, cần bổ sung quy định chi tiết, cụ thể đối với những trường hợp này.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định của pháp luật về căn cứ để yêu cầu bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Theo khoản 3 Điều 47 Luật tố cáo năm 2018 thì khi có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, xâm hại đến tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm, hoặc bị trù dập, phân biệt, đối xử về việc làm, vị trí công tác… của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo thì tùy từng trường hợp họ có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an, cơ quan, tổ chức có liên quan áp dụng biện pháp bảo vệ. Tuy nhiên, “có căn cứ” là quy định mang tính định tính, khó có thể liệt kê hoặc định lượng được. Vì vậy, cần làm rõ những sự kiện, tình huống, hành vi có thể được coi là “có căn cứ” nhằm thống nhất áp dụng pháp luật.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định về quy trình, nghiệp vụ về tiếp nhận, xử lý và giải quyết tố cáo nói chung và tố cáo hành vi tham nhũng nói riêng. Theo đó, bảo đảm cho công dân thực hiện việc tố cáo một cách thuận lợi, được bảo vệ bí mật thông tin, tạo điều kiện để người dân có thể hiểu được và yên tâm sẵn sàng tham gia tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật; động viên, khuyến khích được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm nói chung và đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng. Đồng thời, nâng cao nhận thức của mỗi cán bộ, công chức có trách nhiệm tham gia vào quá trình tiếp nhận, xử lý và giải quyết tố cáo về việc bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo. Ngoài ra, tăng cường công tác giám sát, đánh giá quy trình  xử lý các đơn thư tố cáo và thực thi việc bảo vệ tố cáo; cơ quan có trách nhiệm báo cáo định kỳ về tình hình tiếp nhận và xử lý tố cáo, nhằm đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả.

Thứ năm, cần quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo là trách nhiệm của cơ quan công an; bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo là trách nhiệm của tất cả các chủ thể tiếp nhận, xử lý thông tin; bảo vệ tài sản của người tố cáo và người thân thích của họ là Ủy ban nhân dân… nhằm hạn chế việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm bảo vệ người tố cáo tham những, tiêu cực.

Thứ sáu, hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, phương tiện, kinh phí bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực để làm cơ sở cho việc tổ chức công tác bảo vệ và quyết toán ngân sách.

Thứ bảy, hoàn thiện các quy định của pháp luật về nguyên tắc khen thưởng, hình thức khen thưởng, hình thức trao tặng khen thưởng, tiêu chuẩn khen thưởng, hồ sơ, thủ tục khen thưởng, mức thưởng, nguồn quỹ khen thưởng đối với người tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Hiện nay, pháp luật quy định còn chung chung về vấn đề này: “Người có thành tích trong việc phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật” (Điều 68 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018); “Người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm pháp luật thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật” (Điều 62 Luật tố cáo năm 2018).

Bên cạnh đó, hiện nay, Bộ Tài chính đang dự thảo thông tư quy định việc quản lý, sử dụng kinh phí phục vụ hoạt động của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các cấp. Trong đó, đề xuất quy định về mua tin phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực, theo đó trong số các nội dung chi mua tin, tài liệu phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng tiêu cực, mức chi mua tin tối đa 50 triệu đồng/tin. Việc bổ sung quy định như trên trong dự thảo thông tư ở góc độ nào đó cũng phát huy được tính tích cực của người dân trong phát hiện tham nhũng; góp phần bảo vệ và khen thưởng người tố cáo, những người can đảm nói lên sự thật và đấu tranh với những hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Thứ tám, cần xây dựng và áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi trả thù hoặc đe dọa đối với người tố cáo hành vi tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, cần có các quy định về việc bồi thường, hỗ trợ người tố cáo trong trường hợp họ bị thiệt hại do hành động trả thù. Có thể nghiên cứu thiết lập cơ chế tố cáo ẩn danh, theo đó có thể cho phép người tố cáo có thể gửi tố cáo ẩn danh thông qua các kênh thông tin an toàn, sẽ tạo điều kiện cho người tố cáo cung cấp thông tin mà không lo ngại bị phát hiện danh tính.

Tăng Thị Thu Trang // https://kiemsat.vn

 

—————————————————————————-

Tài liệu tham khảo:

1. Khen thưởng đối với người tố cáo hành vi tham nhũng theo pháp luật Việt Nam, https://s.net.vn/H0AW, truy cập ngày 20/9/2024.

2. Người tố cáo vẫn đơn độc, lẻ loi trong cuộc đấu tranh với tham nhũng, https://s.net.vn/KJDr, truy cập ngày 15/9/2024.

3. Mai Văn Duẩn, “Kinh nghiệm về bảo vệ người tố cáo của Hàn Quốc”, Tạp chí Thanh tra số 10/2015.

4. Hồ Thị Thu An, “Xây dựng cơ chế bảo vệ người tố cáo”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 197/ 2011.

Views: 2