Kỷ niệm 156 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 – 22/4/2026)

Nội dung chính trong Thông tin tuyên truyền:

KỶ NIỆM 156 NĂM NGÀY SINH V.I.LÊNIN (22/4/1870 – 22/4/2026)

  • [Infographics]: V.I.Lênin: Lãnh tụ vĩ đại của cách mạng vô sản thế giới
  • Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng Đảng
  • Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa mới
  • Giới thiệu sách về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng V.I.Lênin và xây dựng chủ nghĩa xã hội – Sách hiện có tại Thư viện tỉnh Lâm Đồng – Khu vực Đông Lâm Đồng

———————————————————–

V.I.LÊNIN: LÃNH TỤ VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG VÔ SẢN THẾ GIỚI

Ngày 22/4/2026 kỷ niệm 156 năm ngày sinh của V.I. Lênin (1870-2026), vị lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

// https://infographics.vn/

————————————————————

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN SÁNG TẠO QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

Trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, V.I.Lênin (Vladimir Ilyich Lenin) không chỉ là người kế tục và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác mà còn là nhà lý luận và thực tiễn xuất sắc về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản.

Những quan điểm của ông về công tác xây dựng Đảng không chỉ góp phần quyết định vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 mà còn trở thành nền tảng lý luận quan trọng cho các Đảng Cộng sản trên toàn thế giới, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.

V.I.Lênin – nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Ảnh tư liệu

Quan điểm về xây dựng Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản

V.I.Lênin luôn khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, khác về chất so với các đảng phái chính trị trước đó. Theo V.I.Lênin, Đảng Cộng sản phải là đội tiền phong chiến đấu, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật nghiêm minh, được trang bị lý luận khoa học và gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Đây là một bước phát triển quan trọng so với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đấu tranh cách mạng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc.

Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng Đảng được thể hiện tập trung trên những nội dung cơ bản sau:

Một là, Đảng hoạt động phải dựa trên một hệ tư tưởng, lý luận tiến bộ dẫn đường. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”. Tư tưởng, lý luận tiến bộ mà V.I.Lênin luôn đề cao là chủ nghĩa Mác. Do đó, Đảng phải luôn kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển lý luận phù hợp với thực tiễn. Việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho đảng viên vì thế trở thành nhiệm vụ thường xuyên, nhằm nâng cao nhận thức và bản lĩnh cách mạng.

Hai là, nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Theo đó, trong Đảng phải có sự thống nhất cao về ý chí và hành động, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Trung ương. Tuy nhiên, sự tập trung đó phải được xây dựng trên cơ sở dân chủ rộng rãi, bảo đảm quyền thảo luận, tranh luận và đóng góp ý kiến của đảng viên. V.I.Lênin coi đây là yếu tố sống còn để Đảng vừa giữ được sự thống nhất, vừa phát huy được trí tuệ tập thể.

Ba là, nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng là xây dựng đội ngũ cán bộ. V.I.Lênin luôn coi công tác cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, Đảng cần lựa chọn, đào tạo và sử dụng những người có phẩm chất đạo đức, năng lực và tinh thần cống hiến; đồng thời, phải có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ để ngăn ngừa sự thoái hóa, biến chất.

Bốn là, cội nguồn tạo nên sức mạnh của Đảng là mối quan hệ gắn bó mật thiết với quần chúng. V.I.Lênin cho rằng, Đảng không thể tồn tại và phát triển nếu tách rời nhân dân. Đảng phải biết lắng nghe, học hỏi và phục vụ lợi ích của quần chúng, đồng thời lãnh đạo quần chúng đấu tranh vì mục tiêu cách mạng. Sự gắn bó mật thiết này là nguồn sức mạnh vô tận của Đảng.

Năm là, để Đảng không ngừng phát triển, cần thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Trong quá trình hoạt động, Đảng không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm; vì vậy cần có cơ chế tự phê bình và phê bình nghiêm túc để sửa chữa và hoàn thiện. Đây là biểu hiện của một Đảng chân chính cách mạng, luôn biết tự làm trong sạch mình.

Ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng ở Việt Nam hiện nay

Đối với Việt Nam, quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng Đảng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Hiện nay, trong bối cảnh có nhiều cơ hội và thách thức đan xen, việc vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin càng trở nên cấp thiết.

Thứ nhất, về xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Trong điều kiện hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các luồng tư tưởng đa chiều tác động mạnh mẽ đến xã hội. Vì vậy, việc giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là yêu cầu hàng đầu. Đồng thời, cần tăng cường giáo dục lý luận chính trị, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, tránh tình trạng dao động, mất phương hướng.

Thứ hai, về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong thực tế, vẫn còn những biểu hiện vi phạm nguyên tắc này như dân chủ hình thức hoặc tập trung quan liêu. Việc quán triệt và thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ theo tinh thần của V.I.Lênin sẽ góp phần nâng cao hiệu lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Điều này đòi hỏi phải phát huy dân chủ trong Đảng đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương.

Thứ ba, về công tác cán bộ. Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là một thách thức lớn. Việc vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ tư, về mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân. Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng là yếu tố quyết định sự ổn định và phát triển của đất nước. Đảng cần tiếp tục phát huy vai trò phục vụ nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân và giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng của V.I.Lênin về gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân.

Thứ năm, về công tác tự phê bình và phê bình. Đây là vũ khí sắc bén để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Trong thực tế, việc tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn mang tính hình thức, nể nang, né tránh. Việc thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này theo tinh thần của V.I.Lênin sẽ giúp Đảng kịp thời phát hiện và khắc phục những hạn chế, yếu kém, từ đó nâng cao năng lực lãnh đạo.

Những điểm nhấn quan trọng của Đại hội XIV về xây dựng Đảng

Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ phát triển nhanh và bền vững, hội nhập quốc tế sâu rộng cùng với những thách thức từ mặt trái của kinh tế thị trường và sự chống phá của các thế lực thù địch, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Trọng tâm trước hết là kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; đồng thời vận dụng sáng tạo, phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Đại hội cũng đặc biệt coi trọng việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, tăng cường “sức đề kháng” của cán bộ, đảng viên trước những quan điểm sai trái, xuyên tạc.

Một nội dung nổi bật trong quan điểm của Đại hội XIV là tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, cũng như các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Điều này gắn liền với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, bảo đảm mọi tổ chức Đảng và đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đại hội yêu cầu phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Bên cạnh đó, Đại hội XIV nhấn mạnh vai trò then chốt của công tác cán bộ, coi đây là “then chốt của then chốt” trong xây dựng Đảng. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, phải bảo đảm đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đại hội đề cao việc đổi mới mạnh mẽ công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ theo hướng khách quan, minh bạch, lấy hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu. Đồng thời, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài, tạo cơ chế để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Như vậy, quan điểm của Đại hội XIV về xây dựng Đảng thể hiện sự kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm vai trò cầm quyền vững chắc, từ đó dẫn dắt đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Lê Thị Chiên // https://hanoimoi.vn/

————————————————————

VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA MỚI

“Tổ quốc trong tim” – chương trình nghệ thuật đặc biệt do Báo Nhân Dân, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. (Ảnh: BÁO NHÂN DÂN)

Trong quá trình hoạt động cách mạng và sáng tạo lý luận, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã đưa ra quan điểm về xây dựng nền văn hóa mới. Theo ông, đó là nền văn hóa của giai cấp vô sản, cũng chính là nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; xã hội muốn phát triển thì cần thiết phải chú trọng đến phát triển văn hóa, bởi văn hóa được xem là nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền văn hóa mới này nhằm mục đích phục vụ đời sống của nhân dân.

Ởmỗi giai đoạn lịch sử, Đảng Cộng sản Việt Nam đều vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó có quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa mới để phát triển văn hóa Việt Nam. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa, đã có sự kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về văn hóa.

Thứ nhất, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Nếu như V.I.Lênin xác định văn hóa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển xã hội và giữ vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nâng tầm nhận thức này khi khẳng định văn hóa không chỉ dừng lại ở vị trí nền tảng tinh thần, mà còn là “nguồn lực nội sinh, động lực to lớn và trụ cột, hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Cách tiếp cận này cho thấy sự tiếp tục đổi mới tư duy của Đảng khi nhìn nhận về vai trò, vị trí của văn hóa trong kỷ nguyên mới.

Văn hóa không chỉ là nguồn lực nội sinh, động lực của sự phát triển; phát triển văn hóa không chỉ được đặt ngang với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, mà văn hóa còn đóng vai trò điều tiết xã hội.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu gắn kết chặt chẽ, hài hòa các giá trị văn hóa trong mọi lĩnh vực của đời sống, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thật sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện rõ định hướng kết hợp biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Một mặt, Nghị quyết đề cao việc chủ động quảng bá văn hóa dân tộc ra thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; mặt khác, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách đột phá nhằm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.

Sự kết hợp này được cụ thể hóa thông qua việc triển khai đồng bộ hệ giá trị văn hóa: Dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, qua đó tạo nền tảng cho phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, Nghị quyết cũng chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số; tôn trọng sự tồn tại và phát triển các dòng văn hóa lành mạnh; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển dòng văn hóa đại chúng gắn với nguyên tắc “dân tộc hóa”, “khoa học hóa”.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết số 80-NQ/TW còn nhấn mạnh yêu cầu chủ động thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển văn hóa; xây dựng và khai thác hiệu quả hạ tầng dữ liệu quốc gia, nền tảng số dùng chung, bảo đảm kết nối đồng bộ với các cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển nội dung số, hạ tầng văn hóa số Việt Nam; xây dựng, phát triển hệ sinh thái văn hóa mang bản sắc Việt Nam, đa dạng, hiện đại, có sức mạnh dẫn dắt, thúc đẩy xã hội phát triển bền vững.

Thứ hai, Nghị quyết số 80- NQ/TW đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về tính đảng của văn hóa trong điều kiện mới của Việt Nam. Nghị quyết đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đồng thời, Nghị quyết khẳng định phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Thứ ba, Nghị quyết số 80- NQ/TW đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về tính nhân dân của văn hóa trong điều kiện phát triển mới của đất nước. Nếu như V.I.Lênin khẳng định văn hóa phải thuộc về quần chúng nhân dân, do nhân dân sáng tạo và phục vụ lợi ích của nhân dân, thì Nghị quyết số 80-NQ/ TW đã cụ thể hóa và phát triển sâu sắc luận điểm này trên cả phương diện thể chế, chính sách và thực tiễn triển khai.

Trước hết, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm đầy đủ quyền thụ hưởng và sáng tạo văn hóa, tiếp cận bình đẳng văn hóa; phát triển dịch vụ văn hóa, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.

Xây dựng và vận hành nền tảng văn hóa số toàn dân, cung cấp miễn phí hoặc với chi phí thấp các dịch vụ thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, lớp học nghệ thuật trực tuyến nhằm thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, tầng lớp nhân dân. Bảo đảm bình đẳng trong thụ hưởng các giá trị văn hóa đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số; chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, việc lần đầu thống nhất chọn ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, với chủ trương là ngày nghỉ, người lao động được hưởng nguyên lương, không chỉ tạo điều kiện nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, mà còn khuyến khích hoạt động sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ, qua đó thúc đẩy lan tỏa các giá trị văn hóa trong toàn xã hội.

Hơn nữa, Nghị quyết còn xác định rõ người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm của đổi mới sáng tạo văn hóa, đồng thời thụ hưởng trực tiếp giá trị và thành quả của văn hóa, tạo điều kiện hình thành tầng lớp công chúng văn hóa hiện đại, gắn với môi trường số và đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, Nghị quyết số 80- NQ/TW cho thấy Đảng ta đã kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của V.I.Lênin về yêu cầu nâng cao dân trí trong cách mạng văn hóa, coi đây là điều kiện nền tảng để xây dựng xã hội mới và phát triển con người toàn diện.

Nếu như V.I.Lênin nhấn mạnh việc nâng cao trình độ học vấn, tri thức và năng lực văn hóa của quần chúng như một nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng, thì Nghị quyết số 80-NQ/TW đã cụ thể hóa và hiện đại hóa quan điểm này thông qua chiến lược phát triển nguồn nhân lực toàn diện, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực văn hóa.

Theo đó, Nghị quyết đề ra yêu cầu chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, nhất là cán bộ chủ chốt và những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật ở địa phương; xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa.

Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh việc đổi mới giáo dục nghệ thuật trong các cơ sở giáo dục, không chỉ nhằm phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, mà còn định hướng thị hiếu thẩm mỹ và chuẩn bị nguồn nhân lực từ sớm; đồng thời xây dựng và phát triển các viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo theo mô hình tiên tiến, hiện đại; phát triển các chương trình đào tạo đặc thù về văn hóa, nghệ thuật, công nghiệp sáng tạo và quản trị dữ liệu văn hóa; cho phép đào tạo tích hợp phổ thông, nghệ thuật, công nghệ để hình thành đội ngũ nhân lực văn hóa, nghệ thuật, công nghệ chất lượng cao…

Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên sâu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong văn hóa và đội ngũ sáng tạo nội dung số. Đảng ta không chỉ kế thừa quan điểm của V.I.Lênin về nâng cao dân trí, mà còn phát triển theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục, khoa học, công nghệ và văn hóa, nhằm tạo lập nền tảng nhân lực cho phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh mới.

Quan điểm của V.I.Lênin về xây dựng nền văn hóa mới vẫn giữ nguyên giá trị phương pháp luận, đặc biệt đối với Việt Nam, khi việc kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc đang trở thành yêu cầu tất yếu nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam.

Nhận thức sâu sắc quan điểm của V.I.Lênin và quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa mới, nhất là quan điểm của Đảng thể hiện trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, là cơ sở để mỗi người Việt Nam và nhất là mỗi cơ quan văn hóa Việt Nam có cách ứng xử đúng đắn đối với vấn đề xây dựng nền văn hóa mới trong bối cảnh công nghệ số và hội nhập quốc tế vừa có những thuận lợi, nhưng cũng có không ít thách thức hiện nay.

Trịnh Thị Hằng // https://nhandan.vn/

————————————————————

Giới thiệu sách về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng V.I.Lênin và xây dựng chủ nghĩa xã hội – Sách hiện có tại Thư viện tỉnh Lâm Đồng – Khu vực Đông Lâm Đồng

Nhân kỷ niệm 156 năm Ngày sinh V.I.Lênin (22/4/1870 – 22/4/2026), Thư viện tỉnh Lâm Đồng – Khu vực Đông Lâm Đồng trân trọng giới thiệu đến bạn đọc một số tài liệu tiêu biểu về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng V.I.Lênin và sự vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Các tài liệu góp phần khẳng định giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về tư tưởng của V.I.Lênin đối với xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.

  1. V.I.Lênin và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
  • Thông tin xb: Hà Nội: Chính trị quốc gia sự thật, 2018
  • Ký hiệu xếp giá: 335.4346 / V432-L
  • Mô tả vật lý: 663tr., 24cm
  • Chủ đề: Chủ nghĩa xã hội–Việt Nam
  • Tóm tắt: Bao gồm 8 phần như: Tư tưởng của V.I.Lênin về thời đại ngày nay; V.I.Lênin với chủ nghĩa Mác; Tư tưởng của V.I.Lênin về chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội; V.I.Lênin về xây dựng kinh tế; Về tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng chính trị;…
  • Vị trí tài liệu: Phòng Đọc: DVL.015263;
  1. Chủ nghĩa Mác-Lênin với vận mệnh và tương lai của chủ nghĩa xã hội hiện thực
  • Tác giả: Nguyễn, Ngọc Long
  • Thông tin xb: Hà Nội: Chính trị quốc gia – sự thật, 2010
  • Ký hiệu xếp giá: 335.43 / CH500NGH
  • Mô tả vật lý: 530tr., 21cm
  • Chủ đề: Chủ nghĩa Mác – Lênin; Chủ nghĩa xã hội hiện thực; Lí luận
  • Tóm tắt: Trình bày lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực trước đổi mới và ý nghĩa của nó, chủ nghĩa xã hội hiện thực đổi mới và phát triển, tương lai thuộc về chủ nghĩa xã hội
  • Vị trí tài liệu: Phòng Đọc: DVV.017296; Phòng Mượn: MVV.021880; MVV.021881
  1. Thường thức về xây dựng Đảng: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng
  • Thông tin xb: Hà Nội: Chính trị Quốc gia Sự thật, 2022
  • Ký hiệu xếp giá: 324.2597075 / TH561T
  • Mô tả vật lý: 147tr., 21cm
  • Chủ đề: Đảng Cộng sản; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Xây dựng Đảng; Chủ nghĩa Mác-Lênin
  • Tóm tắt: Gồm 3 chương: Tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về Đảng Cộng sản và xây dựng Đảng Cộng sản; Tư tưởng của V.I. Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng và xây dựng Đảng
  • Vị trí tài liệu: Phòng Đọc: DVV.031040 ; Phòng Mượn: MVV.045010 ; MVV.045011
  1. Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai đoạn hiện nay
  • Tác giả: Phạm, Văn Linh
  • Thông tin xb: Hà Nội: Chính trị quốc gia sự thật, 2019
  • Ký hiệu xếp giá: 335.41 / GI-100T
  • Mô tả vật lý: 412tr., 24cm
  • Chủ đề: Chủ nghĩa Mác-Lênin; Quan hệ sản xuất; Giá trị–Chủ nghĩa Mác-Lênin
  • Tóm tắt: Gồm các bài viết, tham luận phản ánh những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; những nhận thức và việc vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam hiện nay. Chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ về mối quan hệ này, từ đó đề xuất những gợi ý chính sách cho phát triển kinh tế – xã hội thời gian tới.
  • Vị trí tài liệu: Phòng Đọc: DVL.015828; Phòng Mượn: MVL.018910; MVL.018911
  1. Thường thức lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
  • Thông tin xb: H.: Chính trị Quốc gia Sự thật, 2023
  • Ký hiệu xếp giá: 200.9597 / TH561T
  • Mô tả vật lý: 132 tr., 21 cm
  • Chủ đề: Tôn giáo; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Chủ nghĩa Mác-Lênin
  • Tóm tắt: Giới thiệu những kiến thức cơ bản, phổ thông về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
  • Vị trí tài liệu: Phòng Đọc: DVV.031266; DVV.029753; DVV.031042; Phòng Mượn: MVV.042605; MVV.042606; MVV.045014; MVV.045015

Views: 1